|
Chủ đề: Sức khỏe phụ nữ |
“Tôi có thai lần đầu. Phụ nữ trong thời kỳ mang thai có những nguy cơ gì cần tầm soát không?” Lê Minh Hà, Hải Phòng |
Suốt thời gian mang thai – dù là lần đầu hay lần 2, lần 3… đều có thể đối diện với những nguy cơ khác nhau tùy thuộc vào sự kết hợp với một hay nhiều yếu tố, ví dụ: tuổi mẹ quá trẻ (từ 15 tuổi trở xuống) sẽ làm tăng nguy cơ bị tiền sản giật, ngược lại mang thai quá muộn (từ tuổi 35 trở đi) cũng gặp nhiều vấn đề như cao huyết áp, tiểu đường khi có thai và cả các biến chứng khi chuyển dạ. Vì thế mỗi phụ nữ mang thai là một trường hợp “không giống ai” về chăm sóc và phòng ngừa biến cố suốt giai đoạn mang thai cũng như khi chuyển dạ.
3 tháng đầu – giai đoạn khó khăn
Nôn và buồn nôn: Đối với phụ nữ có thai lần đầu, tình trạng nôn và buồn nôn được gọi là ốm nghén và cũng là đối tượng dễ gặp tình trạng nghiêm trọng hơn như nôn mửa nặng, mất nước và giảm cân. Họ hay buồn nôn nhất vào buổi sáng nhưng cũng có thể bất cứ lúc nào trong ngày và rất dễ buồn nôn khi ngửi thấy mùi xào nấu, mùi hăng cay. Nếu chỉ là thể nhẹ hoặc trung bình thì chỉ gây khó chịu. Nếu là thể nặng, có thể dẫn đến mất nước và rối loạn điện giải, có thể kèm theo những nguy cơ cho con như thai chết lưu, thai nhẹ cân.
Sảy thai tự nhiên: Không phải là biến cố hiếm gặp bởi vì chỉ có loài người là loài duy nhất mà sự mang thai không phải chắc chắn sẽ dẫn đến việc sinh ra con. 15% những phụ nữ chậm kinh 5 – 6 tuần và được xác định là có thai bằng siêu âm nhưng sau đó đã kết thúc bằng sự cố sảy thai không vì một lí do rõ rệt nào. Hơn 50% thai nghén không đi đến đủ tháng mà đã “hỏng” giữa đường vì những lí do hoàn toàn tự nhiên ở phụ nữ trẻ dưới 35 tuổi, càng nhiều tuổi thì nguy cơ sảy thai càng tăng lên. Từ 35 đến 42 tuổi, tỷ lệ sảy thai tăng từ 15 lên 30%. Những bất thường ở trứng là những nguyên nhân chính của sảy thai tự nhiên, bất thường ở nhiễm sắc thể (NST) chiếm đến 70% trường hợp sảy thai, trong khi cả 2 bố mẹ đều có nhiễm sắc đồ hoàn toàn bình thường. Sự cố hay gặp này không phải là bệnh mà chỉ là sự điều chỉnh tự nhiên.
3 tháng giữa – dễ chịu nhưng vẫn kèm nguy cơ
Một số bệnh lý có thể xảy ra mặc dầu ở giai đoạn này, phụ nữ thường cảm thấy tỉnh táo, khỏe khoắn hơn. Một số nguy cơ được nhắc đến là:
Cao huyết áp (khi có trị số huyết áp lớn hơn 140/90 milimét thủy ngân): Là sự cố bệnh lý đe dọa sự an toàn cho cả mẹ và thai. Mặc dù nhiều phụ nữ có thai bị huyết áp cao vẫn có thể sinh con khỏe mạnh và không có vấn đề gì nghiêm trọng nhưng vẫn được coi là nguy hiểm cho cả mẹ và thai. Những phụ nữ đã bị cao huyết áp từ trước khi có thai dễ gây ra một số biến chứng khi có thai hơn những phụ nữ có huyết áp bình thường. Một số phụ nữ khác chỉ bị cao huyết áp khi mang thai (gọi là cao huyết áp thai nghén). Tác động của huyết áp cao đến thai nghén có thể nhẹ nhưng cũng có thể nặng, ví dụ gây tổn thương thận và các cơ quan của người mẹ hoặc có thể làm cho thai đẻ ra nhẹ cân và đẻ non. Trường hợp nặng nhất thì người mẹ có thể bị tiền sản giật, một trạng thái đe dọa sinh mạng của cả mẹ và thai.
Thiếu máu: Thiếu máu do thiếu sắt là thể bệnh thường gặp nhất, ngoài ra còn có thể thiếu máu do thiếu vitamin; thiếu máu có tính chất di truyền (thiếu máu hồng cầu liềm…). Với phụ nữ có thai bị thiếu máu do thiếu sắt thì có thể tăng nguy cơ đẻ non và sinh ra con nhẹ cân. Tim thiếu ôxy nên phải làm việc nhiều hơn để đem ôxy đến cho cơ thể, dẫn đến tim đập nhanh hay không đều, có cảm giác đau ngực, tim to ra và thậm chí suy tim. Triệu chứng thường gặp nhất của mọi thể thiếu máu là cảm giác nhọc mệt vì cơ thể không nhận đủ ôxy. Ngoài ra còn có thể có da xanh, loét miệng và lưỡi, thở nhanh, ăn không ngon, tiêu chảy, tê bì hay đau nhói ở bàn tay hoặc/và bàn chân, yếu cơ, tâm trí lú lẫn hay dễ quên.
Bệnh tiểu đường: thường bắt đầu vào tháng thứ 5 hay thứ 6 của thai nghén (giữa tuần lễ thứ 24 và 28). Trong hầu hết các trường hợp bệnh qua đi sau khi đã sinh con. Mức đường huyết cao trong máu có hại cho cả mẹ và thai. Những yếu tố nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường trong thời gian mang thai: béo phì, lịch sử bệnh gia đình có bệnh tiểu đường típ 2, phụ nữ từ 35 tuổi trở lên mới có thai, nếu lần trước đã sinh con to (khoảng từ 3,7kg – 4,5kg), có cao huyết áp, có yếu tố chủng tộc thuận lợi. Nếu không được điều trị thì thai sẽ dễ có bệnh ngay khi đẻ ra như có mức đường huyết thấp hoặc vàng da hoặc có cân nặng hơn bình thường.
3 tháng cuối – cần đặc biệt thận trọng
Đây là giai đoạn có nhiều nguy cơ với cả mẹ và thai nhi, bao gồm:
Nhiễm khuẩn đường tiết niệu (NKTN): Tình trạng thai nghén làm tăng nguy cơ bị nhiễm khuẩn đường tiết niệu. Nồng độ progesterone cao làm cho cơ niệu quản giãn do đó niệu quản dài ra và khi tử cung lớn lên thì có thể chèn ép vào niệu quản làm cho dòng nước tiểu không lưu thông dễ dàng. Ðến cuối kỳ thai nghén, đầu thai nhi lại đè vào bàng quang nên không thể làm rỗng bàng quang hoàn toàn càng làm cho dòng nước tiểu ứ đọng, khó lưu thông, tạo thuận lợi cho vi khuẩn phát triển trước khi bị thải ra ngoài. Nếu bị nhiễm khuẩn thận khi có thai cần dùng kháng sinh đường tĩnh mạch và đề phòng nguy cơ đẻ non.
Tiền sản giật và sản giật: Thường phát triển từ trạng thái cao huyết áp không được kiểm soát. Tiền sử có một số bệnh từ trước khi có thai như cao huyết áp mạn tính, tiểu đường, bệnh thận hay bệnh lupus đều tăng nguy cơ bị tiền sản giật. Khi tiền sản giật không được kiểm soát tốt, các cơn giật xảy ra, với các triệu chứng nghiêm trọng như nhức đầu nặng, rối loạn thị lực, không còn tỉnh táo, có khi hôn mê. Sản giật có thể gây tổn thương vĩnh viễn cho một số cơ quan quan trọng của người mẹ như não, gan, thận. Không được điều trị, sản giật có thể gây hôn mê, tổn thương não và tử vong cho cả mẹ và thai.
Tuy nhiên, sự phân chia các nguy cơ bệnh lý theo 3 giai đoạn chỉ có giá trị tương đối vì có nhiều bệnh khởi phát ở giai đoạn sớm nhưng nặng lên ở các giai đoạn sau.
Chuyên gia: BS Đào Xuân Dũng
Chuyên khoa Sản phụ II
Địa chỉ tham khảo:
www.cimsi.org






Đã có mặt trên các sạp báo: 



